Thứ sáu, 08/09/17

Thách thức là cơ hội để Việt Nam Hội nhập hiệp định thương mại tự do thế hệ mới


Nhiều đại biểu nguyên là lãnh đạo cơ quan nhà nước; các tập đoàn kinh tế, các nhà khoa học tham dự Diễn đàn Khoa học: "Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham gia vào Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới" do Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam tổ chức.

Phát biểu đề dẫn tọa đàm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - Phạm Văn Tân,  cho biết:  Ngày 15/4/2015, Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam năm 2015, Liên hiệp hội đã triển khai được 7 diễn đàn; năm 2016 tổ chức 8 diễn đàn và năm 2017 dự kiến thực hiện 8 diễn đàn. Đây là tọa đàm thứ 3 trong năm 2017 với chủ đề: Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham gia vào Hiệp định thương mại thế hệ mới.

Tại diễn đàn, các tham luận và nhiều ý kiến của các đại biểu tập trung vào các vấn đề như: Hội nhập của Việt Nam vào các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như cơ hội và thách thức trong việc mở rộng thị trường, tiếp cận nguồn vốn, đầu tư; công tác quản lý cũng như cải cách thủ tục hành chính cho phù hợp để hội nhập.

Nói về quá trình hội nhập quốc tế, PGS.TS Trần Kim Chung, Phó viện trưởng, Viện Quảng lý kinh tế TW (CIEM) cho rằng: “Hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại động lực và điều kiện cho Việt Nam phát nhanh và bền vững, góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trong khu vực và thế giới. Song song với ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách thể chế theo định hướng thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại nhiều cơ hội cho nền kinh tế, cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân Việt Nam. Quá trình hội nhập sâu rộng là vấn đề xuyên suốt trong các Chiến lược và Kế hoạch phát triển Kinh tế-Xã hội của Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào 2020, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS.TS Trần Kim Chung cũng chỉ ra rằng: Quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo thêm động lực và định hướng cho Việt Nam tiến hành cải cách thể chế, chính sách. Thực tiễn cho thấy những giai đoạn mà Việt Nam hội nhập mạnh mẽ nhất – như các giai đoạn 1989-1996, 2000-2007, là những giai đoạn có nhiều cải cách thể chế kinh tế trong nước và đạt được nhiều thành tựu kinh tế -xã hội ấn tượng nhất.  Phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 5 - 10 năm tới đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn, trong đó đặc biệt là cơ hội và thách thức từ việc triển khai thực hiện đồng thời các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới song phương và đa phương, trong đó điển hình như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, dự kiến sẽ ký kết và có hiệu lực vào năm 2018; hay như sáng kiến về Hiệp định TPP11 gồm 11 nước đối tác, không bao gồm Mỹ.

Được coi là một hiệp định quan trọng nhất thế kỷ 21 với tầm ảnh hưởng và phạm vi rộng lớn, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hướng tới thiết lập mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với mức độ cam kết sâu.

GS-TSKH Lê Du Phong, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học kinh tế Quốc dân cho biết: Nếu như Hiệp định thương mại thế hệ cũ chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề thuế quan đối với các loại hàng hóa xuất-nhập khẩu thì Hiệp định thương mại thế hệ mới ngoài các nội dung trên còn có các vấn đề: Dịch vụ đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm Chính phủ, dịch chuyển lao động, bảo hiểm, môi trường... Các hiệp định thương mại thế hệ mới không chỉ tác động đến chính sách kinh tế, mà còn đến cả thể chế kinh tế của các quốc gia tham gia ký kết hiệp định, đặc biệt là sự phù hợp với thông lệ quốc tế của hệ thống luật pháp, tính rõ ràng, minh bạch của Chính phủ trong điều hành nền kinh tế. Việc thực thi các Hiệp định thương mại thế hệ mới đem lại nhiều cơ hội phát triển quan trọng cho Việt Nam có cơ hội tiếp cận và xâm nhập vào nhiều thị trường khác nhau trên thế giới với mức độ cao hơn, sâu hơn.

Nói về lợi ích cũng như chỉ ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Xuân Hòa Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng: “ Lợi ích đầu tiên là cơ hội mới cho phát triển xuất khẩu. Có thể thấy rất rõ cơ hội này khi các nước xoá bỏ thuế nhập khẩu cho hàng hoá của Việt Nam. Hay như Hiệp định EVFTA có thể sẽ đưa xuất khẩu của Việt Nam vào EU trong năm 2020 tăng thêm 16 tỉ USD so với trường hợp không có EVFTA. Nếu các doanh nghiệp tận dụng được cơ hội để trở thành một thành tố, một mắt xích trong dây chuyền cung ứng đó thì khả năng phát triển sản xuất, vươn ra phạm vi toàn cầu sẽ lớn hơn nhiều so với việc tự tìm thị trường.”

Cho đến nay, 70% nhập khẩu của Việt Nam đến từ khu vực Đông Á và hơn 50% xuất khẩu là vào khu vực này. Xuất khẩu lại là động lực chính của tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, Tiến sĩ Hoàng Xuân Hòa cũng chỉ ra một thách thức lớn đến từ những hạn chế trong nội tại của nền kinh tế như: Hạn chế trong tiếp cận lao động và nguồn nhân lực; Hạn chế trong tiếp cận tín dụng, cơ cấu thị trường; Hạn chế trong tiếp cận khoa học - công nghệ; Hạn chế trong năng lực đổi mới và sáng tạo; Hạn chế trong năng lực đáp ứng của cơ sở hạ tầng; Hạn chế từ hệ thống doanh nghiệp của Việt Nam.

Ông Nguyễn Vi Khai, Nguyên viện trường Viện CNXHKH cho rằng: “Thực tế, chúng ta phải hiểu chúng ta đang ở tọa độ nào, mức độ nào của con tầu đang chạy với tốc độ rất nhanh. Chúng ta là nước nhỏ nhất, thấp nhất và yếu nhất trong hiệp định TPP kể cả về thu nhập nhưng về dân số chúng ta đứng thứ 3 sau Nhật Bản và Mê-xi-cô, tiềm năng lớn những chúng ta đang đứng ở đáy của 11 nước gia nhập Hiệp định này".

Đánh giá các cơ hội và thách thức đối với quá trình tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của nước ta trong giai đoạn tới là có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau, cơ hội có thể trở thành thách thức nếu không được tận dụng kịp thời và thách thức có thể biến thành cơ hội nếu chủ động ứng phó thành công.

“Hội nhập là một nội dung quan trong trong đường lối đổi mới của Đảng, tích cực chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng cũng như việc ký kết và thúc đảy đàm phán hoặc đang đàm phán các định chết hội nhập. Sau khi gia nhập WTO, nước ta đã tham gia các hiệp định MDTD mới và các hiệp định MDTD thế hệ mới là HĐ WTO+.

Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương khẳng định:“Hội nhập là một nội dung quan trong trong đường lối đổi mới của Đảng, tích cực chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng cũng như việc ký kết và thúc đảy đàm phán hoặc đang đàm phán các định chết hội nhập. Sau khi gia nhập WTO, nước ta đã tham gia các hiệp định MDTD mới và các hiệp định MDTD thế hệ mới là HĐ WTO+. Mấu chốt là phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Mọi dự án đầu tư, nhất là dự án FDI phải đánh giá tác động đến Quốc phòng, An ninh. Đẩy mạnh cải cách thể chế. Xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh để có một xã hội mạnh. Qua đó, phát huy trí tuệ của mọi thành viên trong xã hội đi đôi với đẩy  mạnh chống tham nhũng, làm yên lòng dân, gắn kết xã hội. Phát triển mạnh kinh tế tư nhân, tạo nên một lực lượng doanh nghiệp vững mạnh, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, tạo cơ sở cho độc lậ tự chủ về chính trị và đối ngoại".

Việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thực phải đối mặt, tuy nhiên các đại biểu đều cho rằng, thách thức chính là cơ hội để phát triển bứt phá. GS-TSKH Lê Du Phong cho rằng: Đó chính là sự cạnh tranh quyết liệt của mọi quốc gia, trong khi trình độ và chất lượng của nền kinh tế Việt Nam đang ở mức khá thấp, năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp đều khá hạn chế. Tiêu chí cao nhất của Việt Nam là “ kỹ năng kiến thức toàn cầu”-xếp thứ 56, còn tiêu chí thấp nhất là “kỹ năng nghề nghiệp và kỹ thuật” –xếp thứ 98. Rõ ràng, nếu không có giải pháp hữu hiệu khắc phục thách thức này, thì Việt Nam khó trụ vững khi tham gia các Hiệp định thương mại thế hệ mới. Nếu Việt Nam tận dụng được cơ hội và vượt qua được các thách thức thì sẽ gặt hái được nhiều thành công khi tham gia các Hiệp định thương mại thế hệ mới”.

Giai đoạn từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo, với quá trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Việt Nam cần mở rộng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng (cả kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường) cộng với môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, là cơ hội để Việt Nam có thể thu hút nhiều dự án FDI có quy mô lớn.  Đồng thời, Việt Nam có cơ hội tiệp cận với những tiến bộ mới của khoa học và công nghệ, nhất là những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, để đổi mới nhanh chóng trình độ công nghệ của nền kinh tế nước nhà. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với hệ thống doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ ở mọi châu lục của thế giới, thu hút được 24.005 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với số vốn đăng ký là 341.598,2 triệu USD và vốn thực hiện là 154.492,9 triệu USD.

 

Nguồn: tam nhin.net.vn, ngày 08/09/2017

Số lượt đọc77