Thứ tư, 16/03/16

Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ nhu cầu cấp bách của nền kinh tế


Kỳ vọng Đại hội Đảng sẽ mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển, sáng tạo úng dụng khoa học công nghệ, Phó Chủ nhiệm ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường Lê Bộ Lĩnh nói, “đây không chỉ là mong mỏi mà còn là nhu cầu cấp bách từ yêu cầu phát triển kinh tế”

Các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng nêu rõ việc đầu tư cho phát triển ứng dụng khoa học công nghệ phải đi trước một bước trong tất cả hoạt động của các ngành, các cấp; tập trung mọi nguồn lực của Nhà nước và xã hội để khuyến khích, thúc đẩy đầu tư cho phát triển khoa học công nghê. Đây là hai điểm mới quan trọng, được nhấn mạnh hơn nhiều so với các văn kiện Đại hội trước. Điều này sẽ tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Thực sự trở thành động lực

Là đại biểu của Đại hội XII, ông Nguyễn Việt Dũng cho biết về giải pháp thực hiện yêu cầu này có nhiều điểm mới. Ngoài các giải phảp mà Đại hội trước đã nêu, từ đổi mới, đồng bộ về cơ chế, chính sách, cơ chế tài chính, cơ chế quản lý trong khoa học công nghệ thì lần này, có điểm mới là thúc đẩy việc xây dựng các tổ chức khoa học công nghệ theo mô hình tiên tiến và có những cơ chế đặc thù, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hội nhập. Đặc biệt, nội dung về đẩy mạnh hợp tác khoa học công nghệ phải ưu tiên hàng đầu.

Hiện, UBTVQH cũng đang tiến hành cuộc giám sát về “Hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2005 - 2015 và định hướng phát triển giai đoạn tới, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo”.

Nội dung giảm sát tập trung đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2005 - 2015; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật để phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo giai đoạn 2016 - 2020.

Báo cáo về thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2015, của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân với đoàn giám sát cho biết, Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đã được Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành và địa phương triển khai tích cực, đúng định hướng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nếu như giai đoạn 2001 - 2010 nhiều mục tiêu của Chiến lược chưa đạt được như: mục tiêu tổng mức đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ còn ở mức thấp; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ trong dân số thấp... thì đến giai đoạn 2011 - 2015, khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, DN và nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị của DN năm 2015 đạt 10,5%. Số lượng công bố quốc tế các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng bình quân 19,5%/năm, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 4 ở Đông Nam Á và thứ 2 trong số 31 nước có thu nhập trung bình thấp trên thế giới. Đặc biệt, giai đoạn này tổng mức đầu tư cho khoa học - công nghệ đạt 1,2% GDP. Tuy không đạt mức 2% GDP như chỉ tiêu đặt ra, nhưng đây là lần đầu tiên đầu tư xã hội (0,7% GDP) lớn hơn đầu tư của nhà nước (0,5% GDP)...

Gắn kết còn rất lỏng lẻo

Dù vậy, còn rất nhiều việc phải làm để phát triển lĩnh vực này. Theo Phó Chủ nhiệm Lê Bộ Lĩnh, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ là giải pháp then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng cho nền kinh tế. Các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội cần được xây dựng trên những cơ sở khoa học vững chăc, phải gắn với các giải pháp công nghệ hiện đại phù hợp nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chiến lược khoa học công nghệ phải trở thành cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; tạo cơ chế huy động mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ.

“Hiện nay, chúng ta có rất nhiều chiến lược phát triển cấp quốc gia, như chiến lược kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh, các chiến lược phát triên vùng và một loạt các chương trình, đề án phát triển ngành, lĩnh vực. Chúng ta cũng có chiến lược phát triển khoa học công nghệ và 52 chương trình khoa học công nghệ”, ông Lĩnh nói, “nhưng sự gắn kết của các chương trình, chiến lược này rất lỏng lẻo. Một khi khoa học công nghệ chưa nằm trong tâm điểm cốt lõi của các chiến lược và chương trình phát triển thì rất khó có thể biến khoa học công nghệ thành động lực phát triển.Vì vậy, trước hết, phải gắn kết chiến lược, chương trình khoa học công nghệ với các chiến lược và chương trình phát triển quốc gia”.

Một Phó Chủ nhiệm khác của Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của QH, ông Phùng Đức Tiến, thấy rằng, ở Việt Nam, từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới, mở cửa và đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996), nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ (KH&CN) đã được nâng cao rõ nét và ngày càng khẳng định vai trò động lực của KH&CN trong phát triển kinh tế. Phương châm phát triển kinh tế phải dựa vào KH&CN và KH&CN phải hướng vào xây dựng kinh tế được quán triệt và thực hiện thường xuyên.

Ông Tiến nhấn mạnh, “đặc biệt, khi tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, điều đáng mừng là nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, DN đã nhận thức được rằng chỉ có đổi mới công nghệ mới đủ sức cạnh tranh và tồn tại được trong nền kinh tế thị trường. Chủ trương đó đã thúc đẩy các ngành các cấp, các tầng lớp tri thức, doanh nhân, kể cả nông dân, nghệ nhân, chủ trang trại, nông trại... nghiên cứu, ứng dụng tri thức khoa học, kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ với tinh thần làm giàu cho mình, cho quê hương”.

 
Đoàn Trần

Thời báo kinh tế Việt Nam số 24 ngày 28/1/2016; tr5

Số lượt đọc3429