Thứ bảy, 27/06/15

Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập


Cùng với tiến trình cải cách thể chế kinh tế, cơ chế chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực sự nghiệp công nói chung và khoa học và công nghệ nói riêng đã từng bước đổi mới theo hướng tập trung vào việc tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, khuyến khích các đơn vị có điểu kiện chuyển sang tự chủ, cải thiện thu nhập cho người lao động; tạo điều kiện cho Nhà nước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước
 
Từng bước đổi mới cơ chế tự chủ

Trong lĩnh vực sự nghiệp khoa học công nghệ (KHCN), Chính phủ đã ban hành riêng Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005, Nghị định số 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập. Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP với quan điểm chủ đạo là đổi mới và giao quyền tự chủ mạnh mẽ cho tổ chức KHCN công lập (nhất là quyền tự chủ cao về tổ chức, biên chế, tài chính và cả quyền sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp cho các tổ chức KHCN công lập; đổi mới phương thức cấp kinh phí của Nhà nước cho hoạt động KHCN theo hướng cấp theo nhiệm vụ, không bao cấp theo số lượng biên chế...), nhiều tổ chức KHCN đã chuyển đổi mô hình hoạt động thành công. Các tổ chức KHCN đã tự chủ thực hiện nhiệm vụ; tự chủ về tài chính, tài sản (nâng cao doanh thu và mức thu nhập bình quân đầu người); tự chủ về quản lý tổ chức và nhân lực; tự chủ về hợp tác quốc tế...

Theo Báo cáo của Bộ KHCN, tính đến hết năm 2014, đã có 488/642 tổ chức KHCN công lập được phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP, trong đó 295 tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên và 193 tổ chức KHCN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ quản lý nhà nước và được ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp tục hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP cũng bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc do: (i) Một số bộ, ngành, địa phương chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/ NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn, thậm chí áp dụng sai đối tượng thực hiện; (ii) Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa kiên quyết, nghiêm túc trong chỉ đạo tổ chức KHCN trực thuộc thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP, nên đến nay, một số bộ ngành, địa phương chưa phê duyệt xong đề án thực hiện tự chủ của các tổ chức KHCN công lập trực thuộc (iii) Chưa kiên quyết trong phân loại, chuyển đổi các tổ chức KHCN công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP. Nhiều tổ chức KHCN cố xây dựng phương án để nằm trong nhóm nghiên cứu cơ bản để tiếp tục được NSNN hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên; (iv) Hệ thống cơ chế chính sách và văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn thiếu đồng bộ, xung đột làm hạn chế quyền tự chủ của tổ chức KHCN công lập. Nghị định 115/2005/ NĐ-CP cho phép tự chủ cao về tài chính song các văn bản khác có liên quan lại hạn chế quyền tự chủ, như việc bị hạn chế bởi khuôn khổ định mức chi tiêu quá thấp do được quy định trong các thông tư ban hành từ nhiều năm trước, việc khoán chi thực hiện nhiệm vụ KHCN chỉ được áp dụng với nội dung đã có định mức kinh tế kỹ thuật...

Đồng thời, quá trình thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 24/5/2006 về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong việc phân bổ kinh phí NSNN, hạch toán chi phí trong giá dịch vụ, chi trả thu nhập tăng thêm... Do vậy, từ năm 2012 đến nay, Đảng và Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ trương, định hướng đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công nói chung và tổ chức KHCN nói riêng như Thông báo 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị kết luận về Đề án "Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công"; Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ; Luật Khoa học công nghệ năm 2013... Mới đây, ngày 14/2/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (gồm cả lĩnh vực KHCN) cũng đã được ban hành.

Những điểm mới của Nghị định 16/2015/NĐ-CP

Nghị định 16 đã có một số điểm mới như: (i) Khuyến khích đơn vị có đủ điều kiện phấn đấu tự chủ mức độ cao hơn khi phân loại và quy định riêng cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên; (ii) Đổi mới phương thức bố trí dự toán ngân sách theo hướng cơ quan quản lý cấp trên đặt hàng đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; đặt hàng, giao kinh phí hỗ trợ từ NSNN vói đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; (iii) Lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN kết cấu dần các chi phí vào giá dịch vụ; (iv) Cho phép đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được quyết định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập...

Do Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định chung các nguyên tắc, quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực nên theo đó, các Bộ (bao gồm Bộ KHCN) sẽ phải chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng và trình Chính phủ sửa đổi, ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực.

Phương thức bố trí dự toán ngân sách

Nghị định 115/2005/NĐ-CP thay đổi phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho tổ chức KHCN theo hưóng khoán tương ứng với nhiệm vụ được giao, không cấp theo số lượng biên chế của tổ chức KHCN. Nghị định 16/2015/NĐ-CP có điểm mới khi chuyển từ chỗ giao dự toán NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập sang thực hiện phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công dựa trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của từng loại dịch vụ công (phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra). Đây cũng là một trong những nội dung được đề cập đến trong quá trình sửa đổi Luật NSNN.

Bố trí dự toán ngân sách cho đơn vị sự nghiệp công qua phương thức đặt hàng cung ứng dịch vụ công về bản chất chính là một hình thức mua sắm dịch vụ công. Tuy nhiên, thực hiện phương thức này đòi hỏi các bộ, địa phương phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao đốỉ với các đơn vị sự nghiệp. Riêng lĩnh vực nghiên cứu KHCN khi thực hiện bố trí ngân sách theo kết quả đầu ra còn phải chú ý đến tính đặc thù là khó đo lường kết quả đầu ra (lĩnh vực khoa học xã hội) hay phải qua nhiều lần thử nghiệm thất bại mới thành công (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật). Ngoài ra, cần chú trọng đến công tác giám sát, đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện hợp đồng, đặc biệt là đánh giá độc lập từ bên thứ 3 để đảm bảo tính khách quan, công khai minh bạch, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả chi NSNN.

Trích lập các Quỹ

Nghị định 16 quy định các mức trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đốỉ với tất cả các loại hình đơn vị sự nghiệp công, cụ thể: đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên: trích tốỉ thiểu 25% phần chênh lệch thu lớn hơn chi; đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên: tối thiểu 15%; đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên: tối thiểu 5%. Như vậy, mức trích lập tối thiểu 25% phần chênh lệch thu lớn hơn chi vào Quỹ phát triển sự nghiệp theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP thấp hơn mức trích tốỉ thiểu 30% theo Nghị định 115 và trích tổỉ thiểu 30% vào Quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn theo Nghị định 71/2013-NĐ-CP. Trong khi đó, hội đồng quản trị hoặc thủ trưởng của các cơ sở ngoài công lập, cơ sở được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực xã hội hóa theo Nghị định 69/2008/NĐ-CP được quyết định việc trích lập các quỹ phù hợp vói Điều lệ tổ chức hoạt động của cơ sở hay Luật DN.

Liên quan đến trích lập Quỹ phát triển sự nghiệp, Nghị định 52/2009/NĐ-CP ngày 3/6/2009 về quản lý, sử dụng tài sản nhà nưóc quy định, toàn bộ tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính phải được trích khấu hao theo chế độ áp dụng đốì với DNNN và số tiền trích khấu hao tài sản cố định được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN được bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị. Tuy nhiên, quy định này hiện vẫn chưa triển khai do chưa có sự đồng bộ trong cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công, đồng thời sẽ tác động tới giá thành dịch vụ sự nghiệp công.

Việc tăng mức trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và quy định đơn vị sự nghiệp công tự chủ cao được trích khấu hao tài sản cố định tính vào chi phí dịch vụ sự nghiệp công sẽ giúp đơn vị có tích lũy để tái đầu tư phát triển, nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, từ đó giảm gánh nặng đầu tư cho NSNN. Song, nếu đưa mức trích lập tối thiểu vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp lên quá cao thì phần còn lại đơn vị được giao quyền tự chủ sẽ bị hạn hẹp, không tạo động lực khuyến khích cán bộ, công chức trong đơn vị. Do mức trích quy định là mức trích tối thiểu, nên đơn vị sự nghiệp công vẫn có thể dành mức trích cao hơn cho Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp công nếu có khả năng, nhu cầu. Nghị định 16 quy định mức trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp khác nhau tùy thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị. Tuy nhiên, để tránh tình trạng chi trả thu nhập tăng thêm quá cao, các nghị định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực cần có quy định hướng dẫn cụ thể, bắt buộc hơn về các mức trích cao hơn áp dụng cho một số trường hợp có nguồn thu lớn.

Về Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Nghị định 16 quy định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập có sự phân biệt giữa đơn vị tự chủ cao với các đơn vị tự chủ thấp hơn nhằm khuyến khích các đơn vị phấn đấu vươn lên tự chủ cao hơn. Cụ thể, cho phép đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư tự quyết định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập, song vẫn khống chế mức trích tối đa đối với các đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên là không quá 3 lần và 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và phụ cấp lương do Nhà nước quy định. Trong khi đó, Nghị định 115/2005/NĐ-CP lại không quy định mức trích tối đa hoặc tối thiểu đốì với Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, tương đương quy định đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Hơn nữa, để tăng tính tự chủ cho tổ chức KHCN và thu hút nhân tài, tổng mức thu nhập của cán bộ, viên chức trong năm của tổ chức KHCN thực hiện theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP cũng không bị giới hạn mức tối đa, đổng thời tổ chức KHCN được quyền ký hợp đồng với viên chức mức lương thực tế cao hơn quy định Nhà nước tùy thuộc vào kết quả hoạt động tài chính của đơn vị và tiền lương chính thức trong hợp đổng được tính vào chi phí hợp lý trước thuế.
Theo báo cáo của Bộ Khoa học và công nghệ, tính đến hết năm 2014, đã có 488/642 tổ chức khoa học và công nghệ công lập được phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2015/NĐ-CP, trong đó 295 tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên.

Về trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đưa ra mức trần trích lập là 3 tháng quỹ lương của đơn vị, tương đương mức quy định đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên theo Nghị định 16.

Huy động vốn và vay vốn tín dụng

Để tăng cường tính tự chủ cho đơn vị sự nghiệp trong việc huy động vốn và vay vốn tín dụng, Nghị định 16 quy định, đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. Song, riêng các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Đồng thời, đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại hoặc kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN, đồng thời lãi tiền gửi là nguồn thu của đơn vị và được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc quỹ khác theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề này, Nghị định 115/2005/NĐ-CP cũng cho phép tổ chức KHCN khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm được Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay để đầu tư sản xuất, kinh doanh; được vay vốn của các tổ chức, cá nhân, vay tín dụng ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng các hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm trả nợ vay... Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức KHCN lại rất khó tiếp cận các nguồn vốn này. Về nguyên tắc, các tổ chức KHCN không thể sử dụng tài sản như đất đai để thế chấp vay vốn nên hạn mức tín dụng ở mức thấp, không đủ để thực hiện các hợp đồng kinh tế lớn. Để huy động được vốn xã hội, một số viện nghiên cứu đã sử dụng hình thức huy động vốn chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định cụ thể là tham gia góp vốn thành lập công ty cổ phần, các cán bộ của viện tham gia điều hành doanh nghiệp. Do đó, cùng với việc đưa ra các chính sách ưu đãi về huy động tài chính cho tổ chức KHCN cần phải tính đến các cơ chế, chính sách đồng bộ đi kèm như thẩm quyền sử dụng đất, thẩm quyền quản lý cán bộ đốì với tổ chức KHCN chuyển đổi cơ chế tự chủ...

Nghị định 16/2015/NĐ-CP có điểm mới khi chuyển từ chỗ giao dự toán NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập sang thực hiện phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công dựa trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của từng loại dịch vụ công.

Hỗ trợ lực lượng lao động dôi dư

Trong những năm gần đây, số lượng cán bộ, viên chức của các đơn vị sự nghiệp công lập có xu hướng tăng nhanh do chưa xác định theo định mức lao động, vị trí việc làm từ đó góp phần gia tăng gánh nặng cho NSNN và là nguyên nhân làm chậm tiến độ cải cách tiền lương. Do vậy, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế quy định, một trong những đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế là người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ dôi dư do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhỉệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự. Hơn nữa, tiến trình đổi mới khu vực sự nghiệp công với việc thực hiện các hình thức đặt hàng, mua sắm dịch vụ công, chuyển đơn vị sự nghiệp thành công ty cổ phần... sẽ khiến một lực lượng không nhỏ lao động trong khu vực sự nghiệp công bị dôi dư cần được hỗ trợ.

Việc giải quyết nhân lực dôi dư khi các tổ chức KHCN thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 96 hiện đang thực hiện theo Quyết định số 592/QĐ-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KHCN và tổ chức KHCN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Theo đó, Nhà nước hỗ trợ tổ chức KHCN công lập giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư khi chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, gồm: hỗ trợ tài chính cho người lao động về hưu trước tuổi, chuyển công tác sang làm việc tại các tổ chức, đơn vị ngoài công lập, thôi việc ngay; hỗ trợ kinh phí đào tạo, đào tạo lại, bổi dưỡng để chuyển đổi nghề và tìm việc làm mới.

Các chính sách hỗ trợ lao động dôi dư do thực hiện tinh giản biên chế và từ hệ quả của quá trình đổi mới khu vực sự nghiệp công có thể làm tăng gánh nặng chi NSNN, tuy nhiên việc thực hiện chính sách hỗ trợ vẫn rất cần thiết nhằm tránh phát sinh các hệ lụy đốỉ với sự phát triển chung của nền kinh tế-xã hội. Nghị định 16/2005/NĐ-CP không quy định về vấn đề hỗ trợ lao động dôi dư, tuy nhiên, qua nghiên cứu Nghị định 41/2002/NĐ-CP về chính sách đốỉ với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN, Nghị định 91/2010/NĐ-CP về chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm sở hữu và Nghị định 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần cho thấy, sau khi cổ phần hóa và sắp xếp lại DNNN đều thành lập Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư.

Nhìn chung, cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí hiện nay khá thông thoáng, thậm chí một số điểm đã có mức độ tự chủ cao hơn so với Nghị định 16/2015/NĐ-CP như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, để thực sự thúc đẩy các tổ chức KHCN còn lại thực hiện chuyển đổi, vận hành và phát triển tốt thì việc xây dựng nghị định về cơ chế tự chủ cho lĩnh vực KHCN theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP vẫn cần phải tính nhiều hơn đến các yếu tố đặc thù của tổ chức KHCN, các chính sách phát triển thị trường KHCN và tăng cường năng lực KHCN, nhất là lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

Tài liệu tham khảo:

 

1.         Kỷ yếu hội thảo "Cơ chế tự chù, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và KHCN", Viện CL&CSTC, Trường ĐH Tài chính-QTKD, 2013;

2.         Báo cáo "Đánh giá cơ chế chính sách, pháp luật và bố trí nguồn lực đổi với lĩnh vực KHCN", Bộ Tài chính, 2014;

3.         Báo cáo 'Tình hình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập”, Bộ KHCN, 3/2015.

ThS. Nghiêm Thị Thúy Hằng, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính

Số lượt đọc4785